Header Ads

Các nội dung trên website mang tính nghiên cứu, tham khảo và chia sẻ tri thức văn hóa phương Đông. NẾU BẠN VÀ GIA ĐÌNH ĐANG GẶP VẤN ĐỀ VỀ PHONG THỦY VÀ TÂM LINH or this blogger template? HÃY LIÊN HỆ VỚI THẦY HOÀNG QUỐC HUY: E-Mail: Hoangquochuysg81@gmail.com Fanpage: https://www.facebook.com/trungtamthienuy - https://www.facebook.com/huangguohui.vn.

Nhà Sư Pháp Hiển

 Nhà sư Phật giáo Trung Quốc Huyền Trang, người hành hương vĩ đại nhất đến Ấn Độ, được miêu tả trong bức tranh tường thế kỷ thứ chín tại hang động Mạc Cao, Đôn Hoàng. (Wikimedia PD-Art).

Bản dịch kinh Phật đầu tiên được biết đến sang tiếng Trung diễn ra vào năm 148 CN, khi một hoàng tử xứ Parthia và nhà truyền giáo đến Trung Quốc. Ông đã xây dựng các ngôi chùa Phật giáo ở Lạc Dương và bắt đầu dịch kinh Phạn sang tiếng Trung. Đến thế kỷ thứ tư, Phật giáo ở Trung Quốc bắt đầu được hoàng đế trân trọng, và khi Phật giáo ngày càng phổ biến, nhu cầu về những kinh điển chính thống hơn từ chính trung tâm Phật giáo, tức tiểu lục địa Ấn Độ, cũng tăng lên. Chính điều này đã truyền cảm hứng cho nhà sư Trung Quốc Pháp Hiển và bốn người bạn đồng hành lên đường từ quê nhà ở tỉnh Sơn Tây vào năm 399 CN, trong một hành trình dài 15 năm đối với Pháp Hiển.



 Pháp Hiển không phải là Phật gia Trung Quốc đầu tiên hành hương đến thăm Ấn Độ, nhưng ông là người đầu tiên có ghi chép về chuyến hành trình của mình được lưu truyền rộng rãi, xuất hiện dưới tựa đề Phật Quốc Ký hay Ký sự về các Vương quốc Phật giáo. Ông cũng may mắn khi thực hiện chuyến đi vào thời điểm Phật giáo ở Trung Quốc vừa có được vị hoàng thân đầu tiên quy y.



 Sau khi đi theo dòng chảy thượng nguồn của sông Indus qua dãy Pamirs với rất nhiều khó khăn, Pháp Hiển đã đến vương quốc Phật giáo Woo-chan (Mahabun, ngày nay là Swat, miền bắc Pakistan), vào mùa xuân năm 402 CN, nhận thấy đây là một bán thiên đường Phật giáo, nơi ‘Phật Pháp rất thịnh vượng’. Vào mùa thu, Pháp Hiển chuyển đến vùng đồng bằng Gandhara, lưu ý rằng ở đây, dân số vẫn chủ yếu theo đạo Phật, mặc dù phần lớn là Tiểu thừa, với rất nhiều tu viện của các nhà sư.



Cũng có nhiều bằng chứng trên khắp Gandhara là những gò tưởng niệm chứa xá lợi của các vị bồ tát Phật giáo được gọi là stupa (bảo tháp). Tại thành phố Purushpura (ngày nay là Peshawar) Pháp Hiển rất vui mừng khi thấy hai bảo tháp lớn do vua Kanishka của Kushan xây dựng, một bảo tháp là nơi cất giữ chiếc bình bát khất thực của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni, được người Kushan mang về từ Ấn Độ như một chiến lợi phẩm.


 Nhưng vua Kanishka không phải là vị vua duy nhất xiển dương Phật giáo và xây dựng bảo tháp. Rất lâu trước cuộc xâm lược của người Kushan, một vị vua hùng mạnh hơn nhiều đã nêu gương mà vua Kanishka chỉ đơn giản là noi theo. Vị đại vương này được người Trung Hoa biết đến với danh hiệu Vô Ưu Vương, hay còn gọi là “Vị Vua không phiền não”. Chính Vô Ưu Vương đã mang những phước lành của Phật Pháp đến Trung Quốc, và danh tiếng của ngài được tôn vinh khắp Trung Nguyên như một Chakravartin hay ‘Bậc Chuyển Luân Pháp Vương’


 Vô Ưu Vương là cái tên mà Pháp Hiển đã nghe nhiều lần trong chuyến du hành Ấn Độ của mình, lần đầu tiên ông gặp khi băng qua những ngọn núi ngăn cách xứ Mahabun với đồng bằng, được mô tả trong hồi ký của ông là ‘nơi mà Dharmavivardhana, con trai của Vô Ưu Vương, cai trị. Từ thời điểm này trở đi, những lần Pháp Hiển nhắc đến vua Vô Ưu hầu như luôn liên quan đến những bảo tháp được cho là do chính vị kiến ​​trúc sư vĩ đại nhất này xây dựng.


 Sau sáu tháng ở Gandhara, ba người bạn đồng hành của Pháp Hiển trở về Trung Quốc. Ông và các bạn hành hương còn lại sau đó đã hành trình qua Punjab đến thành phố Mataoulu (Mathura), vào thời điểm đó dưới sự cai trị của các vị vua Ấn Độ, được Pháp Hiển mô tả là những người tin tưởng tuyệt đối vào Phật pháp. Bản thân họ không phải là Phật tử nhưng đã thể hiện lòng kính trọng sâu sắc đối với cộng đồng tu sĩ Phật giáo bằng cách cúng dường các nhà sư, cởi bỏ mũ miện khi đứng trước mặt họ và dâng thức ăn ‘bằng chính đôi tay của mình’.


Những năm tháng Pháp Hiển ở Ấn Độ trùng với thời kỳ cai trị của vị vua vĩ đại nhất trong triều đại Gupta: Raja Vikramaditya, hay ‘Mặt trời Quyền lực’, cũng được biết đến một cách khó hiểu trong bối cảnh của cuốn sách này là Chandragupta, ‘Người được Mặt trăng Bảo vệ’, nhưng nhìn chung các sử gia sau này gọi ngài là Chandragupta II để tránh nhầm lẫn với Chandragupta Maurya. Nhà Gupta ngày càng hùng mạnh khi người Kushan suy yếu, và đến thời Pháp Hiển, họ đã kiểm soát một đế chế rộng lớn trải dài từ cửa sông Ấn đến cửa sông Hằng. Mặc dù được liệt kê trong các văn bản Bà La Môn giáo là một tín đồ sùng đạo của thần Vishnu trong Ấn Độ giáo, Chandragupta II vẫn bảo trợ mọi hình thức biểu đạt tôn giáo, chỉ giữ lập trường cứng nhắc khi bàn đến vấn đề đẳng cấp.

 

Pháp Hiển đã dành mùa hè năm 404 CN tại Sankisa, mà ông biết là nơi Đức Phật Thích Ca Mâu Ni đã đi xuống bằng chiếc thang ba tầng từ cõi trời sau khi truyền dạy giáo lý đạo Phật cho người mẹ đã khuất của mình.


Trong tác phẩm Phật Quốc Ký, Pháp Hiển ghi lại rằng tại Sankisa, vị vua vĩ đại Vô Ưu đã xây dựng một tu viện từ lâu, ‘với một bức tượng đứng, cao 16 cubit, ngay trên bậc thang giữa. Phía sau tu viện, ông dựng một cột đá cao khoảng 50 cubit, trên đỉnh có một con sư tử.’ Đây là tài liệu tham khảo sớm nhất được biết đến về một cột đá được cho là của hoàng đế Ashoka – vì Vô Ưu, ‘Không Phiền não’, tất nhiên, là bản dịch tiếng Trung của từ ashoka trong tiếng Phạn, ‘không phiền não’.


Sau đó, Pháp Hiển du hành về phía đông để viếng thăm một số địa điểm liên quan đến cuộc đời, cái chết và giáo lý của Đức Phật Thích Ca. Trong số đó có bốn địa điểm linh thiêng nhất của Phật giáo: Lâm Tỳ Ni, nơi Thái tử Tất Đạt Đa ra đời; Bồ Đề Đạo Tràng, nơi ngài đạt được sự giác ngộ để trở thành Đức Phật, hay “Người Tỉnh Thức”; “Lộc Uyển (Vườn Nai)” ở Sarnath, nơi ngài thuyết giảng bài pháp đầu tiên được gọi là Dharmachakra-pravartana, hay “Chuyển Pháp Luân”; và Kushinagara (Câu Thi Na), nơi ngài đạt được sự Tịch Diệt Vĩ Đại, khi qua đời. Sau khi đến địa điểm đầu tiên trong số những địa điểm cát tường này, Pháp Hiển du hành về phía nam để băng qua sông Hằng tại một điểm mà ông mô tả là “nơi hợp lưu của năm con sông”, ngay phía thượng nguồn của thủ đô nước Magadha: Pataliputra, “thành phố của những bông hoa”.


 Pháp Hiển lưu ý rằng đây chính là kinh thành phố mà Vua Vô Ưu đã cai trị Ấn Độ. Thật vậy, cung điện và các hành lang vẫn còn có thể nhìn thấy, và những bức tường thành và cổng thành cao chót vót vẫn còn đứng đó, tất cả đều được khắc chạm bằng các công trình điêu khắc ‘theo cách mà không bàn tay phàm trần của thế giới ta bà này có thể hoàn thành được’, khiến Pháp Hiển phải thốt lên rằng đây là công việc của các chư thiên làm việc theo lệnh của Vô Ưu Vương. Quả thực,


Kinh thành Pataliputra và vùng phụ cận bao quanh chứa rất nhiều thắng tích liên quan trực tiếp đến tên  Vô Ưu Vương. Một là ngọn đồi nhân tạo bên trong thành phố, mà nhà vua đã đặc biệt xây dựng cho em trai mình, mong muốn tìm kiếm cảnh cô tịch để tu tập Phật Pháp. Một địa điểm khác là một đại bảo tháp nằm ngay bên ngoài thành phố; một trong tám bảo tháp ban đầu đã được xây dựng để cất giữ phần xá  lợi được phân chia của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni sau khi hỏa táng, chỉ để mở lại bởi Vua Vô Ưu nhằm phân phối lại cho khắp đất nước. Bảo tháp Phật ở


Pataliputra là bảo tháp đầu tiên trong số này được mở ra. Bên cạnh đó, Pháp Hiển nhìn thấy hai cột đá được cho là của vua Vô Ưu, cột đầu tiên có chu vi khoảng 14 hoặc 15 cubit, cao hơn 30 cubit, trên đó có khắc dòng chữ: “Vô Ưu Vương đã ban tặng Jambudvipa [lục địa phía Nam, Ấn Độ] cho toàn thể các nhà sư, và sau đó chuộc lại bằng tiền. Ngài đã làm như vậy ba lần”. Cột thứ hai cũng cao tương tự nhưng có đầu cột chạm khắc hình sư tử. Dòng chữ khắc ở đây ghi lại việc vua Vô Ưu xây dựng một thị trấn và ngày, tháng, năm xây dựng.


 Bên cạnh bảo tháp xá lợi của vua Vô Ưu là một tu viện Đại thừa, nơi Pháp Hiển đã tu học ba năm, học tiếng Phạn và chép lại một số kinh điển để mang về Trung Quốc. Trong thời gian này, ngài cũng viếng thăm thành Vương Xá (Rajagriha) gần đó, nơi gắn liền với cuộc đời Đức Phật, cũng như Bồ Đề Đạo Tràng (Bodhgaya) – thánh địa của Phật giáo và cây Bồ Đề.


 Tại thời điểm này trong ký sự của mình, Pháp Hiển thêm một chương dành riêng cho lịch sử của Vô Ưu Vương rất giống với Những Câu chuyện Thần thánh, bắt đầu với câu chuyện về việc khi còn là một cậu bé trong kiếp trước, Vô Ưu Vương đã gặp một tiền thân của Đức Phật và đã cúng dường chiếc bánh đất vào chiếc bình bát khất thực cho Ngài, kết quả là ông ‘đã nhận được phần thưởng trở thành vua bánh xe sắt, để cai trị Jambudvipa’.


 Ý nghĩa của bánh xe sắt nằm ở niềm tin Phật giáo rằng khi một vị Chuyển Luân Pháp Vương lên ngôi, ngài sẽ nhận được từ cõi trời một luân xa hay bánh xe, làm bằng vàng, bạc, đồng hoặc sắt, chất liệu của nó biểu thị thời gian và chất lượng triều đại của ngài. Do đó, Vua Vô Ưu là một Chuyển Luân Pháp Vương, nhưng ở cấp thấp nhất trong ba cấp, tức là chưa hoàn hảo.


 Năm 407 CN, Pháp Hiển bắt đầu hành trình trở về Trung Quốc, nhưng đi chậm và mất thêm bốn năm nữa, bao gồm hai năm ở đảo Singhala, hay “Vương quốc Sư tử” (nay là Sri Lanka). Thời gian Pháp Hiển rời khỏi Ấn Độ trùng hợp với sự xuất hiện của một nhóm người du mục Trung Á  mới.ở biên giới tây-bắc Ấn Độ, một dân tộc được người Trung Quốc gọi là Ye-tai hoặc Hoa – sau này, họ đến châu Âu với tên gọi là người Hung Nô và Ấn Độ với tên gọi là người Huna. Đến năm 410 CN, làn sóng đầu tiên của người Hung Nô này đã định cư ở Bactria và Gandhara, chỉ để bị đẩy lùi bởi làn sóng thứ hai của người Hung Nô, được người Ấn Độ gọi là Sveta Huna, hay ‘Người Hung Nô Trắng’. Đến cuối thế kỷ thứ năm, người Hung Nô Trắng đã đánh đuổi những người cai trị Gupta ở miền bắc Ấn Độ lui về lãnh thổ cốt lõi của họ ở đồng bằng giữa sông Hằng.


 Tại Ba Tư, vị hoàng đế Sassanid thứ 20, Khosrau lừng danh (Chosroes), thành lập liên minh các bộ lạc du mục để đánh đuổi người Hung Trắng. Tuy nhiên, ở miền đông Gandhara và miền bắc Ấn Độ, những nhóm người Hung biệt lập vẫn bám trụ, cạnh tranh với những người di cư du mục khác từ Trung Á để thành lập các vương quốc nhỏ của riêng mình. Họ tiếp thu văn hóa địa phương, chấp nhận thẩm quyền tôn giáo của các Bà La Môn, và sau khi trải qua nhiều nghi lễ thanh tẩy, họ tự xưng là Rajput, tức “con trai của các vị vua’, và những Kshatriya được trả lương đầy đủ thuộc đẳng cấp chiến binh. Những gia tộc Rajput hùng mạnh nhất trong số này đã lên nắm quyền dưới sự lãnh đạo của Raja Harshavardana, “Harsha Đại đế”, người đã định cư tại Kannauj trên sông Hằng vào đầu thế kỷ thứ sáu và cai trị đồng bằng sông Hằng trong khoảng bốn mươi năm.


 Sự trỗi dậy nắm quyền của Harsha Đại đế trùng hợp với sự thống nhất của Ả Rập dưới sự lãnh đạo của Nhà tiên tri Muhammad, sự khởi đầu của triều đại nhà Đường ở Trung Quốc và ở mức độ khiêm tốn hơn là sự hình thành các vương quốc nhỏ Anglo-Saxon ở Anh.


Trong khoảnh khắc trong sáng ngắn ngủi này của một giai đoạn lịch sử Ấn Độ đầy hỗn loạn, một nhà sư Trung Quốc thứ hai đã bắt đầu chuyến hành trình được coi là kỳ công nhất mà một Phật gia hành hương từng thực hiện.


 


Sinh ra ở miền đông Trung Quốc vào năm 602, Huyền Trang quy y làm nhà sư Phật giáo ở tuổi hai mươi vào thời điểm Phật giáo ở Trung Quốc đang trải qua thời kỳ hoàng kim nhờ sự bảo trợ nhiệt tình của một loạt các hoàng đế, một trong số đó là Vũ Đế của triều đại nhà Lương (502-49) đã cố tình noi gương hoàng đế Ấn Độ Vô Ưu Vương và bắt tay vào chương trình xây dựng đền chùa xa xỉ của riêng mình.


Nhờ một phần vào những ghi chép của Pháp Hiển, Ấn Độ giờ đây chiếm một địa vị gần như huyền thoại ở Trung Quốc như một “Cõi Tây Thiên” nơi những bậc Chuyển Luân vĩ đại như vua Vô Ưu và vua Kanishka trị vì với tư cách là Dharmaraja hay Pháp Vương, ‘những nhà cai trị xiển dương Phật pháp’. Chính tầm nhìn ​​về Ấn Độ như nguồn gốc chân lý Phật giáo duy nhất đã truyền cảm hứng cho Huyền Trang thực hiện chuyến hành trình tìm kiếm kinh điển Phật giáo. Hoàng đế Đường Thái Tông, người sáng lập triều đại nhà Đường, đã ban hành lệnh cấm du hành nước ngoài. Bất chấp sắc lệnh của hoàng đế, Huyền Trang lên đường đến Ấn Độ vào năm 629. Theo người viết tiểu sử của ông, ông là một trang thanh niên cao lớn, đẹp trai với đôi mắt đẹp và nước da sáng, phong thái uy nghiêm, biểu cảm nghiêm nghị và nhiệt huyết trong việc theo đuổi giáo lý.


Đi theo một lộ trình xa hơn về phía bắc so với người tiền nhiệm, Huyền Trang vượt qua dãy núi Thiên Sơn để tiến vào vùng đất ngày nay là các hãn quốc Trung Á, lúc đó do người Gokturk thù địch thống trị. Vượt sông Amur Darya vào lãnh thổ Sassanid ít thù địch hơn, ông gặp những cộng đồng rải rác các nhà sư Phật giáo đã sống sót sau cuộc tàn phá của người Hung Nô. Những cộng đồng này trải dài về phía tây đến tận Kangguo (Samarkand), Anguo (Bokhara) và Talaquan (Balkh ở miền tây Afghanistan), nơi Huyền Trang dừng chân để nghiên cứu kinh Phật và thu thập bộ kinh Phật đầu tiên trong bộ sưu tập kinh điển Phật giáo vô cùng quan trọng. Sau đó, Huyền Trang tiếp tục theo dấu chân của Pháp Hiển để đến thăm cộng đồng Phật giáo tại Bamiyan, nơi ngài chiêm ngưỡng hai pho tượng Phật đứng vĩ đại [một cao khoảng 38m, một cao 55m được đục trong sườn núi, có cách đây khoảng 1.400 năm, và đến năm 2001 bị bọn Taliban phá hủy bằng đại bác trước sự phẫn nộ của thế giới: ND] và ghi nhận sự hiện diện của “vài chục tu viện với hàng ngàn nhà sư”, trước khi tiếp tục hành trình đến kinh đô mùa hè Kapisha (Begram) của người Gandharan, khi đó vẫn do một vị vua Phật giáo cai quản: “Ngài yêu thương và nuôi dưỡng thần dân của mình và tôn kính Tam Bảo [bao gồm Phật, Pháp và Tăng]. Từ Kapisha, nhà sư Trung Quốc đã vượt qua những ngọn núi ‘dốc và cheo leo’ để vào miền đông Gandhara và lãnh thổ Ấn Độ.


 Đến đoạn này trong câu chuyện về những chuyến du hành Ấn Độ, Huyền Trang dừng lại để mô tả chi tiết về người dân Ấn Độ và phong tục tập quán của họ. Thông tin này được bổ sung sau khi Huyền Trang trở về Trung Quốc theo lệnh của Hoàng đế Đường Thái Tông. Để làm hài lòng hoàng đế, Huyền Trang đã cố gắng hết sức làm ăn khớp hình ảnh Ấn Độ trong tưởng tượng của nhà vua với thực tế mình chứng kiến, cố tình che giấu chi tiết mỗi khi chúng mâu thuẫn với tầm nhìn của hoàng đế. Nhưng không gì có thể che giấu hoàn toàn sự thật mà Huyền Trang nhận thấy ở Ấn Độ là Phật giáo lúc đó đang suy tàn và Bà La Môn giáo đang lên ngôi. Purushpura, kinh đô mùa đông của Gandhara, từng là một trung tâm Phật giáo thịnh vượng dưới thời Pháp Hiển, giờ đây gần như bị bỏ hoang, các di tích Phật giáo vĩ đại chỉ còn là đống đổ nát. Chỉ có nền móng của tòa nhà nổi tiếng này vẫn còn nguyên vẹn, nơi từng lưu giữ báu vật Phật giáo quý giá nhất của Vua Kanishka, chiếc bình bát của Đức Phật. Bản thân chiếc bình bát đã được mang sang Ba Tư.


Từ Purushpura, Huyền Trang đi về phía bắc qua dãy núi Malakand để vào vương quốc Phật giáo Woo-chan (Mahabun) trước kia. Ở đây, mọi thứ cũng chỉ còn là đống đổ nát: ‘Dọc theo hai bên bờ sông Subavastu [sông Swat] trước đây có một ngàn bốn trăm tu viện, nhưng hầu hết giờ đã hoang tàn.’ Tiến về phía đông, Huyền Trang đến ngọn núi lớn Mo-ha-fa-na, phiên âm tiếng Trung của từ Mahavana trong tiếng Phạn, hay ‘Rừng Lớn’, sau này là Mahaban. Tại đây, ông đã tôn kính một bảo tháp do vua Vô Ưu xây dựng để đánh dấu nơi Đức Phật trong một kiếp trước đã cắt một miếng thịt từ cơ thể của ngài để chuộc mạng sống một con chim bồ câu từ một con diều hâu. 


Đây là lần đầu tiên nhắc đến Vô Ưu Vương trong lời kể của Huyền Trang và từ thời điểm này trở đi, những lời nhắc đến vị hoàng đế Ấn Độ vĩ đại của ông ngày càng xuất hiện thường xuyên hơn. Vua Vô Ưu,


Huyền Trang dường như ngụ ý, vẫn còn là một thế lực đáng gờm, mặc dù các đài tưởng niệm của ngài thường được tìm thấy giữa khung cảnh hoang tàn và nhếch nhác. Để củng cố quan điểm này, nhà hành hương Trung Quốc đã bổ sung thêm chi tiết dưới dạng những câu chuyện về Vua Vô Ưu, dựa trên một số nguồn sử liệu mà thế giới phương Tây sẽ không biết đến trong nhiều thế kỷ sau, cũng như chính những ghi chép của Huyền Trang và Pháp Hiển. 


Sau khi vượt sông Ấn, Huyền Trang đến thành phố Taxila hùng vĩ một thời. Ở đây, câu chuyện về sự tàn phá cũng tương tự. Xung quanh thành phố có một số bảo tháp được Huyền Trang cho là của vua Vô Ưu, bao gồm một bảo tháp ở phía đông nam thành phố do chính ngài xây dựng ‘tại nơi con trai ngài, Hoàng tử Kunala, bị móc mắt’. Ở đây, Huyền Trang dành thời gian để kể lại câu chuyện Kunala bị mẹ kế độc ác xúi giục làm mù mắt.


 Từ Taxila, Huyền Trang đến Kashmir để làm khách của vị vua theo Phật giáo. Ở đây, ảnh hưởng liên tục của Vua Vô Ưu cũng được ghi nhận.dưới hình thức những bảo tháp do ngài dựng lên và những tu viện do ngài sáng lập, cho phép Huyền Trang giảng sâu hơn về vị “Vua Vô Ưu xứ Magadha” vĩ đại này, người “nuôi dưỡng sinh vật gồm bốn hình thái sinh trưởng”. Ngài tiếp tục kể câu chuyện kỳ ​​lạ về việc Vô Ưu Vương ra lệnh dìm 500 nhà sư xuống sông Hằng vì đã đi theo dị giáo của một vị trưởng lão Phật giáo. Họ liền chạy trốn đến Kashmir, và khi họ từ chối quay trở lại, nhà vua đích thân đến tạ lỗi về sự ngược đãi của mình và cho xây dựng 500 tu viện ở Kashmir.


Sau ba năm nghiên cứu kinh điển trên dãy Himalaya, Huyền Trang tiếp tục cuộc hành hương qua vùng đồng bằng thượng lưu sông Hằng. Khắp nơi, ông đều gặp thêm bằng chứng về sự suy tàn của Phật giáo, mặc dù hy vọng của ông được nhen nhóm khi đến xứ Kapitha, vào thời Pháp Hiển, được gọi là Sankisa, nơi diễn ra sự kiện trọng đại trong cuộc đời Đức Phật Thích Ca khi Ngài từ cõi trời trở về trần gian bằng một chiếc thang do chư thiên tạo ra.


 Khi Huyền Trang đến nơi này, cầu thang mà Pháp Hiển nhìn thấy đã biến mất. “Tuy nhiên, cột đá của Vô Ưu Vương, trên đỉnh có một con sư tử vẫn còn đứng vững”, Huyền Trang ước tính cao bảy mươi bộ: “Cột đá màu tím sẫm, được làm bằng một loại đá cứng bóng, vân mịn, trên đỉnh cột có chạm khắc hình một con sư tử đang ngồi xổm hướng về phía cầu thang. Trên bề mặt xung quanh cột đá, có khắc đủ loại hình thù kỳ lạ.”


Nhà hành hương Trung Hoa giờ đây đã đến biên giới của vương quốc hùng mạnh nhất Ấn Độ, do vị vua hùng mạnh Harsha Đại đế cai trị. Khi đến Kannouj vào năm 636, Huyền Trang được đưa đến yết kiến ​​vua Harsha và được hỏi rất nhiều về đất nước của mình. Sau đó, ngài đã gặp nhà vua nhiều lần khác và vô cùng ấn tượng trước tính cách và những nguyên tắc mà nhà vua đã đặt nền móng cho việc cai trị của mình. Đối với Huyền Trang, những nguyên tắc này phản ánh những nguyên tắc mà Vô Ưu Vương đã thiết lập nhiều thế kỷ trước đó và hoàn toàn mang tính Phật giáo, ngoại trừ tên gọi.


Và tuy vậy, khi Huyền Trang tiếp tục cuộc hành hương qua nơi ngày nay là Uttar Pradesh và Bihar, bằng chứng vật chất về sự suy tàn của Phật giáo không thể phủ nhận. Đối với tất cả những mô tả của Huyền Trang về các sự kiện huy hoàng của thời xa xưa, các di tích và tu viện liên quan với chúng phần lớn đã bị phá hủy và hoang tàn. Những vùng nông thôn rộng lớn dường như đã bị bỏ rơi, ngay cả khi ở hầu hết mọi giai đoạn nhà sư Trung Quốc đều bắt gặp những bằng chứng về di sản của bậc Chuyển Luân Vương Vô Ưu. Bên ngoài


thành phố hoang vắng Sravasti ông nhìn thấy hai cột cao 70 bộ đứng hai bên cổng phía đông của Tịnh xá  Jetavana (Kỳ Viên) của Đức Phật: ‘Trên đỉnh cột bên trái có khắc dấu hiệu bánh xe, và hình một con bò đực được khắc ở phía trên cột bên phải.’ Trên vòng ngoài của thành phố Kapilivastu (Ca Tỳ La Vệ) bị bỏ hoang, nơi Thái tử Sidhhartha đã sống những năm đầu đời của mình trước khi dứt áo ra đi tìm chân lý, còn có hai trụ cột như vậy, cả hai đều được chạm khắc sư tử và những dòng ký tự. Tại Hồ Lumbini (Lâm Tỳ Ni) gần đó có một cột trụ duy nhất và một bảo tháp đánh dấu nơi thái tử được sinh ra, mặc dù ở đây cột trụ đã bị một con rồng đập vỡ làm đôi.


 Huyền Trang ghi chép thêm về các cột đá của Vua Vô Ưu khi ông đi về phía nam qua Bihar: một cột trụ ở Kushinagara, nơi Đức Phật nhập niết bàn, được đánh dấu bằng một bảo tháp lớn và ‘một cột đá có ghi chép về Niết bàn của Như Lai được khắc trên đó’; một cột ở Bảo tháp Hỏa táng, nơi hài cốt của Đức Phật được hỏa táng và chia thành tám phần; một cột ở vùng Chandu, trên đỉnh có một con sư tử và khắc về ‘sự kiện chế ngự quỷ dữ’; một cột ở Vaishali, nơi một trong tám phần tro cốt của Đức Phật đã được một vị vua Licchavi lưu giữ trong một bảo tháp, một cột ‘cao 50 hoặc 60 bộ với hình sư tử trên đỉnh’; và hai cột nữa bên ngoài thành phố Varanasi, ‘một ở bờ tây sông Varana, cột còn lại ở bờ đông’. Cột đầu tiên ‘mịn như gương’ và đứng trước một bảo tháp cao hàng trăm bộ do Vua Vô Ưu xây dựng; cột còn lại nằm trong


Vườn Lộc Uyển (Vườn Nai, Sarnath), nơi Đức Phật đã thuyết giảng bài pháp chuyển pháp luân cho năm vị đệ tử đầu tiên của Ngài. ‘Bên trong khuôn viên rộng lớn,’ Huyền Trang viết –


Có một ngôi chùa cao hơn hai trăm bộ, trên đỉnh có khắc hình quả xoài mạ vàng. Phía đông bắc của chùa có một bảo tháp đá do vua Vô Ưu xây dựng. Nền móng tuy đã lún, nhưng phần thân còn lại vẫn cao một trăm bộ. Phía trước có dựng một trụ đá cao hơn bảy mươi bộ, nhẵn như ngọc, sáng loáng như gương. Đây là nơi Đức Như Lai, sau khi giác ngộ viên mãn, lần đầu tiên chuyển Pháp Luân.


Một chuyến tham quan về phía bắc đưa Huyền Trang đến xứ Nepala (Nepal), nơi ông nhận thấy người cai trị Licchavi của xứ này là “một Phật tử thuần thành” và đức tin của người dân ở đó pha trộn giữa Phật giáo và Ấn Độ giáo: “các tu viện và đền thờ deva [đền thờ Hindu] nằm gần nhau đến mức chúng chạm vào nhau”. Sau đó, Huyền Trang trở về đồng bằng Ấn Độ, và sau khi vượt sông Hằng đến Pataliputra – chỉ để thấy kinh thành hùng vĩ một thời này gần như bị bỏ hoang: “Trong số các tu viện, đền thờ deva và bảo tháp, có hàng trăm di tích còn sót lại nằm trong đống đổ nát; chỉ còn lại hai hoặc ba di tích còn nguyên vẹn.”


Những di tích này cho phép Huyền Trang, theo chỉ dẫn của Pháp Hiển, xác định kinh thành dưới thời vua Vô Ưu, bao gồm cả địa điểm nhà tù ‘Địa ngục’ khét tiếng của ngài, hiện được đánh dấu bằng một cây cột cao hàng chục bộ, và di tích đại bảo tháp ở phía nam thành phố mà Pháp Hiển đã nhìn thấy và mô tả, giờ đã sụp xuống một bên, trông giống như một chiếc bình bát khất thực bị lật úp. Cột đá sáng bóng vẫn đứng vững, nhưng, theo ghi nhận của nhà hành hương Trung Quốc, ‘chữ khắc trên đó đã không còn đầy đủ’.


Di tích hoàng gia cuối cùng mà Huyền Trang viếng thăm tại Pataliputra là tàn tích của Kukkutarama, tu viện Cock nằm ở phía đông nam của thành phố cổ, được vua Ashoka xây dựng ngay sau khi ngài quy y Phật giáo và là nơi diễn ra đại hội đồng với sự tham dự của hàng ngàn Phật tử, cả tăng ni và cư sĩ. Đây cũng là nơi diễn ra những ngày cuối đời của vua Ashoka, được tưởng niệm bằng một bảo tháp được gọi là bảo tháp Amalaka, lấy tên từ quả mận anh đào, vật sở hữu cuối cùng của vị vua đang hấp hối.


 Điểm hành hương tiếp theo của Huyền Trang là Bồ Đề Đạo Tràng, nơi ông vô cùng kinh ngạc khi thấy ngôi chùa và cây Bồ Đề gần như bị nhấn chìm bởi những cồn cát trôi dạt. Ông bình luận: “Một số người xưa nói rằng khi tượng Bồ Tát biến mất và trở nên vô hình, Phật pháp sẽ diệt vong, và giờ đây bức tượng ở góc phía nam đã chìm sâu đến tận ngực.” Ngài tiếp tục kể chi tiết về những hành động của Vua Ashoka  không được nhắc đến trong Truyền thuyết về Vua Ashoka:


 Khi vua Vô Ưu vừa lên ngôi, ngài đã tin vào tà giáo và phá hủy di tích Phật Thích Ca để lại. Ngài sai quân lính đích thân đi chặt cây bồ đề. Ngài cho chặt rễ, thân, cành và lá thành từng khúc nhỏ, rồi chất đống ở một nơi cách đó vài chục bước về phía tây, nơi các Bà La Môn thờ lửa được lệnh đốt đống cây đó để tế thần. Nhưng khói lửa chưa kịp tan biến, hai cây đã mọc lên từ ngọn lửa dữ dội, lá xanh tươi, sum suê.

 

Chứng kiến phép lạ này, vua Vô Ưu hối hận, lấy sữa tưới vào những rễ cây còn sót lại và cúng dường cây một cách tận tâm đến nỗi quên cả việc về cung Nhưng rồi hoàng hậu lại lên đường hoàn thành điều mà chồng bà đã bỏ lỡ:


 Hoàng hậu, vốn là một tín đồ tà giáo, đã bí mật sai người chặt cây vào lúc hoàng hôn. Khi vua Vô Ưu đến bái lạy cây vào lúc bình minh, ngài vô cùng đau buồn khi chỉ thấy còn gốc cây. Ngài thành tâm cầu nguyện và tưới nước ngọt lên gốc cây, chỉ vài ngày sau, cây lại mọc trở lại. Với lòng tôn kính  và kinh ngạc sâu sắc, nhà vua đã xây một hàng rào đá cao hơn ba mét xung quanh cây, và hiện vẫn còn tồn tại.


Huyền Trang cũng loan báo rằng cây Bồ Đề lại một lần nữa bị tấn công, và gần đây nhất, kẻ tấn công là vua Sasanka của Bengal, người vừa mới ám sát anh trai của Đại vương Harsha. Được Huyền Trang mô tả là một “vị vua độc ác và dị giáo”, vua Sasanka là một tín đồ Ấn giáo sùng đạo của Thần Shiva và cũng là một kẻ thù không đội trời chung của Phật giáo. Ông ta đã bắt đầu phá hủy các tu viện Phật giáo ở Bengal và Bihar, và đã biến cây Bồ đề ở Bodhgaya thành mục tiêu đặc biệt, trước tiên là chặt cây xuống và đốt cháy nó, sau đó đào xuống tận gốc rễ và ngâm chúng trong nước mía để ngăn chúng mọc lại. ‘Vài tháng sau,’ Huyền Trang viết tiếp, ‘Vua Purnavarman của Magadha, hậu duệ cuối cùng của Vua Vô Ưu, nghe được tin này, thở dài tiếc nuối nói, “Mặt trời trí tuệ đã chìm xuống, và chỉ còn lại cây bồ đề của Đức Phật trên thế gian; bây giờ cây ấy cũng bị hủy hoại, còn gì để chúng sinh nhìn thấy nữa?”


 Vua Purnavarman đã dùng sữa của hàng ngàn con bò tưới cho những rễ cây còn lại, và cây đã cao thêm 10 bộ chỉ trong một đêm. Sau đó, ông lại xây một hàng rào mới bao quanh cây, cao tới hai mươi bốn bộ. Huyền Trang kết luận: “Như vậy, hiện tại cây Bồ Đề nằm sau bức tường đá, cành cây vươn ra ngoài bức tường hơn 10 bộ.”


Sau chuyến viếng thăm Bodhgaya, nhà hành hương Trung Quốc đã bắt đầu một giai đoạn nghiên cứu kinh điển Phật giáo kéo dài trong ba năm tại Nalanda, trung tâm học thuật lớn nhất trong thế giới Phật giáo, thu hút học viên từ những nơi xa xôi nhất của châu Á. Theo Huyền Trang, tất cả học viên này đều là những học giả xuất sắc, có học thức cao, đức trọng được người đương thời kính quý và danh tiếng của họ được biết đến ở nước ngoài ‘lên tới hàng trăm người’. Thành quả của nhiều thế kỷ tư tưởng và triết học Phật giáo đã được lưu giữ tại đây và tại các tu viện chị em của Nalanda gần đó. Điều đó có nghĩa là khi Huyền Trang cuối cùng rời Magadha vào năm 640, ông đã có thể mang theo không chỉ rất nhiều tác phẩm tiếng Phạn và kinh điển dưới dạng bản thảo mà còn là kiến ​​thức sâu rộng về trường phái Du già tông (Yogacara) hay ‘duy thức’ của giáo lý Phật giáo, mà thông qua sự can thiệp của ông sẽ lan truyền khắp Trung Quốc và đến Hàn Quốc và Nhật Bản.


 Ba năm du hành nữa trôi qua trước khi Huyền Trang cuối cùng bắt đầu hành trình trở về Trung Quốc. Ngài trở về đến Tây An, miền Đông Trung Quốc vào năm 645, gây ra nỗi phấn khích lớn và được ăn mừng trên khắp Trung Quốc. Quay lưng lại với những vinh dự mà Hoàng đế Thái Tông ban tặng, Huyền Trang đã lui về chùa Đại Kiến mới xây bên ngoài Tây An để giảng dạy và dịch thuật. Tại đây, ông đã xây dựng Tháp Đại Nhạn để làm thư viện lưu trữ kinh điển Ấn Độ của mình và làm trung tâm dịch thuật. Vào thời điểm Huyền Trang qua đời vào năm 664, Tháp Đại Nhạn đã trở thành trung tâm quan trọng nhất cho việc truyền bá Phật giáo ở phía bắc dãy Himalaya, với năm mươi dịch giả, tất cả đều được sư trụ trì Huyền Trang dạy tiếng Phạn. Theo lệnh của hoàng đế, Huyền Trang cũng dành thời gian để trứ tác mà sau này trở thành một tác phẩm kinh điển nổi tiếng của văn học Trung Quốc: Đại Đường Tây Vực Ký.


 Dưới sự cai trị tập trung mạnh mẽ của triều đại nhà Đường, Phật giáo tiếp tục phát triển thịnh vượng tại Trung Quốc – một trạng thái thuận lợi đã bị chấm dứt đột ngột bởi các sự kiện được ghi lại trong các Phật sử Trung Hoa là “Kiếp nạn thứ ba”: cuộc đàn áp bài trừ Phật giáo do hoàng đế Võ Tông khởi xướng vào năm 842. Trong những thế kỷ đen tối sau đó, nhân vật nhà sư Huyền Trang đã trải qua một sự chuyển đổi kỳ lạ khi được hư cấu thành nhà sư Tam Tạng trong tiểu thuyết kinh điển được yêu thích của nhà Minh là Tây Du Ký, được biết đến nhiều hơn với vai chính được yêu thích trong thời đại của chúng ta trong bộ phim truyền hình nhiều tập ăn khách là Tôn Ngộ Không.


 Tuy nhiên, tính chất biệt lập của Trung Quốc và sự khinh miệt của những bậc thiên tử này đối với thế giới bên ngoài đã khiến cho bộ Đại Đường Tây Vực Ký của Huyền Trang, cùng với bộ Phật Quốc Ký của Pháp Hiển, vẫn không được biết và không được đọc đến bên ngoài Trung Quốc cho đến tận thế kỷ XIX.


Không có nhận xét nào

Được tạo bởi Blogger.